Top 15 # Xem Văn Khấn Ngày Rằm / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Iseeacademy.com

Văn Khấn Ngày Giỗ Anh Trai Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất【Xem 137,610】 / 2023

Rate this post

Đang xem: Văn khấn ngày giỗ anh trai

【#1】Mùng 3 Tháng 3 Ngày Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Mộ phần Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại thôn Vân Cát huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

Từ trung tâm Hà Nội, du khách lái xe hướng qua ra đường CT 01/ CT Pháp Vân – Cầu Giẽ. Đến đoạn giao giữa CT Hà Nội – Ninh Bình và CT Pháp Vân – Cầu Giẽ, lái xe qua vòng xuyến sang QL 21B vào Đại lộ Thiên Trường. Tại vòng xuyến Big C Nam Định, dẽ phải vào QL10/QL38B qua cầu Lộc An tới Đại Lộ Lê Đức Thọ qua cầu Nam Định dẽ phải vào ĐT490/ ĐT 490C, dẽ trái vào ĐT487 đến ngã rẽ phải thứ 5 dẽ vào và đi thẳng đến ngã dẽ thứ 4 bên trái dẽ vào đi thẳng theo đường làng Phú Hào là tới đền Phủ Giày.

Đền Phủ Giày thờ ai?

Đền là một quần thể gồm nhiều ngôi đền nhỏ ghép lại. Đặc biệt phải nói đến kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là Tiên Hương, Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Phủ Tiên Hương được coi là đền chính của Mẫu Liễu Hạnh và thờ bên chồng của Mẫu, còn phủ Vân Cát và Phủ Tổ là nơi thờ Mẫu và bên ngoại (bên bố mẹ đẻ) của Mẫu.

Lịch sử đền Phủ Giày

Đền Phủ Dầy có truyền thuyết kể lại rằng xưa kia vì nhớ thương chồng con trước khi về trời mà bà chúa Liễu Hạnh đã để lại chiếc giày ở trần gian. Cũng có truyền thuyết kể lại rằng vua đi qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy. Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh dày – giò nổi tiếng, lại có người cho rằng: Kẻ Dày xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dầy trước cửa phủ.

Phủ Dầy bắt nguồn từ tên một làng cổ là “Kẻ giầy”. Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của Trọng Nội, Xuất bản năm 1959 thì: đời Vua Anh Tông (1557) làng kẻ Giầy đổi thành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu. Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái. Sang đời Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam định.

Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơi chôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất. Phủ Dầy chính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho một quần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản Nam định. Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương.

Kiến trúc đền Phủ Giày

Đền Phủ Giày gồm 3 quần thể chính:

Phủ Tiên Hương thuộc thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định; nằm cạnh đường giao thông liên xã. Đây là phủ chính trong quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ được xây dựng từ thời Lê – Cảnh Trị (1663 – 1671), trải qua bao thăng trầm lịch sử, phủ vẫn giữ được nét cổ kính thời xưa.

Năm 1996 Phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và thờ cả đức Thánh Trần. Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong, sớm nhất là đời Lê Chính Hòa, rồi đến Lê Vĩnh Thịnh, Lê Vĩnh Khánh đầu thế kỷ XVIII.Thánh Mẫu được tôn là “Mạ vàng công chúa”, “Mẫu nghi thiên hạ”.

Cảnh quan của phủ rất rộng rãi và thoáng đãng. Mới bước vào, du khách sẽ thấy một giếng nước tròn bên trong là ụ đất để cắm cờ khi diễn ra lễ hội. Cán cờ bằng gậy gỗ, trên đầu buộc túm lá hoặc quạ đen làm thiên sứ của trời. Lá cờ thần được treo trên đỉnh. Tiếp đến là sân lớn diễn ra các trò chơi hay là nơi những sập bán hàng được bày bán trong mùa lễ hội. au sân lớn là ba phương đình với phương du ở giữa và hai bên phương đình làm nơi gác chuông, gác trống. Tiếp nối 3 phương đình là hồ bán nguyệt, xuống hồ bán nguyệt có hai cầu được lát bằng đá, đối xứng qua hồ, bên phải là nhà bia và lầu Cậu, bên trái là nhà bia và lầu Cô.

Kiến trúc các dãy nhà tại Phủ được nối liền nhau tạo thành thể thống nhất. Mỗi nhà sẽ có phòng riêng gọi là cung, có tất cả 4 cung: Cung đệ tứ thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng. Đối xứng với cung Đệ Tứ bên trái là Ban Quan lớn Thủ phủ và bên phải là Ban Chầu Thủ phủ; cung đệ tam thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng và Hội Đồng các quan hay Ngũ vị vương quan; Cung đệ nhị thờ Tứ Vị Chầu bà và ba bộ long ngai; Cung Đệ nhất là cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung này ở trong cùng. Tuy nhiên, đa phần nơi thờ Mẫu Tứ phủ có nội cung (cung cấm).

Cung cấm có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh cùng với hai Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân đều được phong thần và sắc phong. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng có thể vào đó được mà phải có sự cho phép của ban quản lý khu di tích mới được đặt chân vào đó.

Bên cạnh các dãy nhà thờ có 1 dãy nhà nữai là Ban Trần Triều. Trong dãy nhà này có đặt ban thờ Ban Trần Triều và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau nơi thờ chính là Động Sơn Trang, nơi này thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn Hai Chầu và mười hai cô Sơn Trang.

Phủ nằm phía bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km. Phủ nằm giữa đền làng Vân Cát và chùa Long Vân nơi thờ Phật, vì thế tạo nên một quần thể thờ Phật – Mẫu – Thần.

Văn bia “Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký” được đặt ở Ngũ Vân Lâu trước phủ do Tổng tài quốc sư quán đời Nguyễn là Cao Xuân Dục soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) viết về quá trình xây dựng phủ Vân Cát: ” .. .là một lầu cổ miếu, chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1633- 1671), làm đơn giản mà đẹp, Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794- 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại, đến năm Thành Thái thứ 12(1900) thì hoàn thành “.

Từ cổng bước vào, du khách sẽ gặp Ngũ Vân Lâu, gác chuông với 5 cổng lớn xây dựng từ năm Tự Đức. Phía trong là hồ bán nguyệt xây bằng đá. Giữa hồ bán nguyệt có phương du nằm ở giữa và có hai cầu đá dẫn ra ngoài. Phương du gồm có ba gian làm bằng gỗ lim, mái có góc uốn cong, xung quanh lan can được ghép bằng những tường hoa bằng đá với những mảng phù điêu trạm khắc một số loài hoa và những con voi. Phương du có bốn mặt thoáng, là nơi khách đứng xem kéo chữ vào ngày hội.

Bên trong phủ có 4 cung thờ: kết câu hai cung đệ nhất và đệ nhị đều có 3 gian, và cả 2 đều được xây từ năm Tự Đức (1879). Cả hai cung đều bị giặc Pháp phá hủy mãi về sau mới được tôn tạo lại.

Cung đệ nhất là chính cung khép kín thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.

Cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu Bà và Tam tòa quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).

Trong Phủ còn dấu tích nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Ngoài ra, nét độc đáo còn nằm ở văn bia cùng ngũ vân lâu ngay tại mặt chính của đền, các công trình bố trí chặt chẽ tạo thành thể thống nhất, giữ lại nét giá trị từ ngàn đời.

Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Lăng mộ Thánh Liễu Hạnh nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn cá chép. Ngôi mộ trước kia là bãi đất với lùm cây xanh lá, sau đó được xây thành khu nhỏ gồm gạch lát đá. Sau đó, vua Bảo Đại cầu tự được con và được thánh Mẫu báo mộng cho, năm 1938, vua Bảo Đại biết ơn mẫu và cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen hồng quy mô như hiện nay.

Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương. Từ ngoài vào bước theo bậc tam cấp lên đến mộ phải qua 5 lớp tường toàn bằng đá được chạm khắc, mỗi lớp tường vuông đều có cửa, cửa được bổ trụ bằng đá vuông với ba mặt đều khắc câu đối và phía trên đặt các nụ sen bằng đá hồng nhạt tới 60 nụ sen đá.

Xung quanh lăng mộ là hàng cây 4 mùa xanh mát, 4 cột trụ chính đặt 4 góc khiến lăng mộ càng thêm long trọng và trang nghiêm. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở chỗ cao nhất của cả khu lăng. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên.

Bên cạnh khu lăng mộ còn có một gian nhà thờ tự với kết cấu sau: Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, từ ngoài bước vào thì bên phải ngay cạnh ban thờ Mẫu là ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần. Bên trái của Ban thờ Mẫu là ban thờ quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.

Hàng năm vào mùa lễ hội, đền đón hàng ngàn khách du lịch về trẩy hội. Hòa chung không khí tấp nập của mùa lễ hội, dân làng và du khách càng thấy hứng khởi đón chào một năm mới đầy thắng lợi./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Vào hồi 17h15 giờ địa phương (21h15 giờ Việt Nam) ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại./

Các dạng thức thờ Mẫu Thờ Mẫu ở Bắc bộ

Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,…

Thờ Mẫu ở Trung Bộ Thờ Mẫu ở Nam bộ

So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…

Liễu Hạnh công chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Mẫu Liễu Hạnh)

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

Đền thờ Thánh Mẫu, đường Ngô Quyền, thành phố Thông tin chung Đà Lạt

Tên thật Phạm Tiên Nga

Liễu Hạnh Công chúa ( chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh (柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Truyền thuyết

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ – Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Lần giáng sinh đầu tiên

Căn cứ vào ” Quảng Cung linh từ phả ký”, ” Quảng Cung linh từ bi ký” và ” Cát Thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản lý di tích – danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hội đồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnh như sau:

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ ( 1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn ( 1472), bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Lần giáng sinh thứ hai

Ngay sau khi bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung.

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 ( 1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Hành thiện giúp đời

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh ( Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ tân phả của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Cảnh Hồ Tây.

Ông bèn lên tiếng ghẹo: 三木森庭,坐著好兮女子 – Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử.

Người con gái nghe vậy, đối ngay: 重山出路走來使者吏人 – Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Phùng Khắc Khoan hết sức kinh ngạc bèn nói tiếp: 山人憑一几,莫非仙女臨凡 – Sơn nhân bàng nhất kỷ, mạc phi tiên nữ tâm phàm.

c âu này có nghĩa: cô sơn nữ ngồi ở ghế, phải chăng là tiên nữ giáng trần? Nhưng lắt léo ở chỗ: chữ sơn 山 và chữ nhân 亻ghép lại thành chữ tiên 仙. Chữ bàng có bộ kỷ 几. Chữ nhất và chữ kỷ ghép lại thành chữ phàm 凡.

Cuộc tái hợp với Đào Lang- Người chồng kiếp trước

Hiện nay những câu đối, những dấu tích về 2 lần gặp gỡ tại Lạng Sơn và Phủ Tây Hồ còn lưu lại ở Đền Mẫu Đồng Đăng (nơi Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh lần đầu) và Phủ Tây Hồ (lần gặp thứ hai)

Sau khi hóa về trời,do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.

Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Lễ hội

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại.

Cung thờ Sơn Trang trong Phủ Tây Hồ

Lễ hội Thánh Mẫu Liễu Hạnh hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch – ngày giỗ của bà.

Địa điểm là:

Đền Sòng Sơn ở đường Hàng Bột, Hà Nội

Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ. Riêng lễ hội Phủ Dầy, còn gắn liền với Hội chợ Viềng, họp vào ngày 7 tháng giêng./

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

Thiên phủ (miền trời): mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp. Nhạc phủ (miền rừng núi): mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh. Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp. Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Tam phủ và Tứ phủ Hát Chầu Văn

Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thiên Y A Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên . Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.

Đó là hình thức hầu đồng với 36 giá chầu:

Thỉnh Mẫu Và Quan Đệ Nhất

Văn Khấn Ngày Rằm : Những Bài Văn Khấn Ngày Rằm Truyền Thống / 2023

Bài văn khấn ngày rằm tại nhà

Bài văn khấn ngày rằm cúng Thổ Công và các vị Thần

Nam mô A Di Đà Phật !(3 lần)

Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông Thần Quân

Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long Mạch

Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần

Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần

Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này.

Tín chủ (chúng) con là:…… Ngụ tại: ………

Hôm nay là ngày … tháng … năm … tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án. Chúng con

thành tâm kính mời: Ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần

quân, ngài Bản gia Thổ Địa. Long Mạch Tôn thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này. Cúi xin

các Ngài nghe thấu lời mời thương xót thương tín chủ giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia

an lạc công việc hanh thông. Người người được bình an, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy).

Bài cúng ngày rằm cúng gia tiên

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng chư vị Tôn Thần.

Con kính lạy Tổ tiên, Hiển khảo, Hiển Tỷ, chư vị Hương linh (nếu bố, mẹ còn sống thì thay bằng Tổ Khảo, Tổ Tỷ)

Tín chủ (chúng) con là:…… Ngụ tại:……

Hôm nay là ngày ….. gặp tiết ….. (ngày rằm, mồng một), tín chủ con nhờ ơn đức trời đất, chư vị Tôn thần, cù lao Tiên Tổ, thành tâm sắm lễ, hương,

hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

Chúng con kính mời: Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần. Cúi

xin các ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ…, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm

thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, phù hộ cho gia chúng con luôn luôn mạnh khỏe,

mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, làm ăn phát tài, gia đình hòa thuận.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần kèm 3 lạy).

Bài cúng Rằm tháng Giêng công ty

Sau khi sắp đầy đủ mâm cúng Rằm tháng Giêng, người đại diện cho công ty sẽ đọc bài khấn Rằm tháng Giêng tại cơ quan với nội dung bài khấn như sau:

Nam mô A-di-đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

Tín chủ (chúng) con là ………………………………giám đốc công ty (hoặc chức danh của người đứng đầu)…………………………

Đang làm việc tại công ty………………………địa chỉ tại………………………….có mã số thuế là………..

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm… gặp tiết Nguyên tiêu, tín chủ con lòng thành, sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngày Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài linh thiêng nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời Ông bà Tiền chủ, Hậu chủ tại về hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành phù hộ độ trì cho công ty chúng con được vạn sự tốt lành, buôn bán hanh thông, làm ăn thuận lợi, lộc tài vượng tiến, cầu gì được nấy, nguyện gì cũng thành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A-di-đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Những bài văn khấn cúng khi đi chùa ngày rằm, mùng Một âm lịch hàng tháng

Văn khấn Đức Ông – Đức Chúa Ông (Tôn giả Tu-đạt)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là………………………………………………………………………………………………………..

Ngụ tại:………………………………………………………………………………………………………………..

Cùng cả gia đình thân tới cửa chùa trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, (nếu có đang lễ vật thì khấn thêm “hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài”), chúng con tâu lên Ngài Tu Đạt Tôn Giả từ cảnh trời cao soi xét.

Chúng con kính tâu lên Ngài Già Lam Chân Tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh Chúng trong cảnh chùa đây.

Thiết nghĩ chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông thể đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, ba tháng hè chín tháng đông, tiêu trừ bệnh tật tai ương, vui hưởng lộc tài may mắn, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

Văn khấn Đức Thánh Hiền (Đức A-nan-đà Tôn Giả)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Con cúi lạy Đức Thánh Hiền, Đại Thánh Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là………………………………………………………………………………………………………..

Ngụ tại:………………………………………………………………………………………………………………..

Chúng con thành tâm tiến dâng lễ bạc, oản quả, hương hoa.

Cầu mong Tam Bảo chứng minh, Đức Thánh Hiền chứng giám, rủ lòng thương xót phù hộ cho con được mọi sự tốt lành, sức khỏe dồi dào, an ninh khang thái, gia đạo hưng long, thịnh vượng.

Cúi mong Ngài soi xét tâm thành, phù hộ cho gia đình chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

Văn khấn cầu tài, cầu lộc, cầu bình an ở ban Tam Bảo (Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.

Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..

Tín chủ con là………………………………………………………………………………………………………..

Ngụ tại:………………………………………………………………………………………………………………..

Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng (nếu viết sớ đặt trên mâm lễ vật) lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.

Chúng con xin dốc lòng kính lễ:

Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà.

Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.

Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.

Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ………………………. (công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).

Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai quan nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khoẻ, trên dưới thuận hoà an khang thịnh vượng.

Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy).

Văn Khấn Thần Tài Ngày Rằm / 2023

Văn Khấn Ngày 05/5, Bài Khấn 49 Ngày, Văn Khấn Ngày 01 Tết, Văn Khấn Ngày 03 Tết, Văn Khấn Ngày 5.5, Văn Khấn 21 Ngày, Văn Khấn Ngày Giỗ, Văn Khấn Ngày Giỗ Mẹ, Văn Khấn 100 Ngày Về Nhà Mới, Văn Khấn Thần Tài Ngày Rằm, Bài Khấn Ngày Rằm, Văn Khấn Mụ 9 Ngày, Bài Khấn Ngày Giỗ, Bài Khấn Ngày 23/12, Bài Khấn Ngày 23 Tết, Bài Khấn Ngay 23, Văn Khấn 49 Ngày Mất, Văn Khấn 3 Ngày, Bài Khấn 100 Ngày Về Nhà Mới, Văn Khấn 100 Ngày, Văn Khấn 1 Ngày Rằm, Bài Khấn 100 Ngày, Văn Khấn Ngày 01, Văn Khấn 3 Ngày Tết, Văn Khấn 50 Ngày, Văn Khấn 7 Ngày, Bài Khấn 3 Ngày Tết, Văn Khấn 49 Ngày, Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 6, Bài Khấn 100 Ngày Bát Hương, Văn Khấn Ngày Rằm Mùng 1, Văn Khấn 49 Ngày Ngoài Mộ, Văn Khấn Ngày Mùng 1, Văn Khấn Ngày Rằm Thổ Công, Văn Khấn Ngày Lễ Phật Đản, Văn Khấn 49 Ngày Người Mất, Bài Khấn Ban Thần Tài Hàng Ngày, Văn Khấn Gia Tiên Ngày 15, Văn Khấn Hàng Ngày, Văn Khấn 100 Ngày Ngoài Mộ, Văn Khấn Thổ Công Ngày Rằm, Văn Khấn Thần Linh Ngày Rằm, Văn Khấn Cúng 50 Ngày, Bài Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương, Văn Khấn ông Công Ngày Rằm, Bài Khấn Hàng Ngày, Văn Khấn 3 Ngày Người Chết, Bài Khấn Lễ Gia Tiên Ngày Cưới, Bài Khấn Ngày Thanh Minh, Bài Khấn Gia Tiên Hàng Ngày, Văn Khấn Ngày 01 Hàng Tháng, Văn Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương Thổ Công, Văn Khấn Ngày 7 Tháng Giêng, Công Văn Của Bộ Gd-Đt Số 7632/bgd-Đt-gdth Ký Ngày 29/8/2005 Về Việc Hướng Dẫn Học Hai Buổi/ngày ở Bậ, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Hướng Dẫn Số 19-hd/btctw Ngày 12/9/2019 Của, Ngày Quy Định Số 104-qĐ/qutw Ngày 16/02/2017 Của Quân ủy Trung ương, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Hướng Dẫn Số 19-hd/btctw Ngày 12/9/2019 Của , QĐ 281/cp Ngày 1/9/1980ong Quân Đội Thực Hiện Theo Quy Định Tại Thông Tư Số 13/nv Ngày 4/9/1972 Của , QĐ 281/cp Ngày 1/9/1980ong Quân Đội Thực Hiện Theo Quy Định Tại Thông Tư Số 13/nv Ngày 4/9/1972 Của, 7632/bgdĐt/gdth Ngày 29/8/2005 Của Bộ GdĐt Về Việc Hướng Dẫn Dạy Học 2 Buổi/ngày ở Lớp 1, 2, 3;, Công Văn Số 7632/bgdĐt/gdth Ngày 29/8/2005 Của Bộ GdĐt Về Việc Hướng Dẫn Dạy Học 2 Buổi/ngày ở Lớp 1, Quy Định Số 228-qĐ/tw, Ngày 07/02/2014 Của Ban Bí Thư Và Hướng Dẫn Số 30-hd/btctw, Ngày 09/02/2015 C, Quy Định Số 228-qĐ/tw, Ngày 07/02/2014 Của Ban Bí Thư Và Hướng Dẫn Số 30-hd/btctw, Ngày 09/02/2015 C, Bài Thu Hoạch Nghỉ Quyết 55 Ngày Ngày 11-02-2020, Nghị Quyết 51-nq/tw Ngày 5/9/2019q/tw Ngày 20/7/2005, Bài Khấn Tứ Phủ, Bài Khấn Vái Về Nhà Mới, Bài Khấn Tại Yên Tử, Văn Khấn 03/03, Từ Văn Bản Lao Xao Của Duy Khán, Bài Khấn Tạ Đất Đầu Năm, Văn Khấn 1, Văn Khấn M 1, Văn Khấn Lễ Tạ Đất, Bài Khấn Tại Đền, Văn Khấn Yên Vị Thần Tài, Bài Khấn Tam Bảo, Văn Khấn 1 Tết, Bài Khấn Vào Đền, Văn Khấn 1/7 âm, Bài Khấn Tạ Mộ, Bài Khấn Thần Tài Thổ Địa, Bài Khấn Xin Bán Nhà, Văn Khấn Nôm, Bài Khấn Xin Con, Bài Khấn Xin Lộc, Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Bài Khấn Xin Sửa Mộ, Văn Khấn Mẫu Mẹ âu Cơ, Văn Khấn Xe ô Tô Đầu Năm, Văn Khấn Xe ô Tô Mới, Văn Khấn ở Đền, Đơn Xin Hỗ Trợ Khó Khăn, Văn Khấn ô Địa, Văn Khấn Mẫu, Văn Khấn Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Vào Hè, Văn Khấn 01 Tết, Đơn Kêu Cứu Khẩn Cấp, Bài Khấn Vào Nhà Mới,

Văn Khấn Ngày 05/5, Bài Khấn 49 Ngày, Văn Khấn Ngày 01 Tết, Văn Khấn Ngày 03 Tết, Văn Khấn Ngày 5.5, Văn Khấn 21 Ngày, Văn Khấn Ngày Giỗ, Văn Khấn Ngày Giỗ Mẹ, Văn Khấn 100 Ngày Về Nhà Mới, Văn Khấn Thần Tài Ngày Rằm, Bài Khấn Ngày Rằm, Văn Khấn Mụ 9 Ngày, Bài Khấn Ngày Giỗ, Bài Khấn Ngày 23/12, Bài Khấn Ngày 23 Tết, Bài Khấn Ngay 23, Văn Khấn 49 Ngày Mất, Văn Khấn 3 Ngày, Bài Khấn 100 Ngày Về Nhà Mới, Văn Khấn 100 Ngày, Văn Khấn 1 Ngày Rằm, Bài Khấn 100 Ngày, Văn Khấn Ngày 01, Văn Khấn 3 Ngày Tết, Văn Khấn 50 Ngày, Văn Khấn 7 Ngày, Bài Khấn 3 Ngày Tết, Văn Khấn 49 Ngày, Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 6, Bài Khấn 100 Ngày Bát Hương, Văn Khấn Ngày Rằm Mùng 1, Văn Khấn 49 Ngày Ngoài Mộ, Văn Khấn Ngày Mùng 1, Văn Khấn Ngày Rằm Thổ Công, Văn Khấn Ngày Lễ Phật Đản, Văn Khấn 49 Ngày Người Mất, Bài Khấn Ban Thần Tài Hàng Ngày, Văn Khấn Gia Tiên Ngày 15, Văn Khấn Hàng Ngày, Văn Khấn 100 Ngày Ngoài Mộ, Văn Khấn Thổ Công Ngày Rằm, Văn Khấn Thần Linh Ngày Rằm, Văn Khấn Cúng 50 Ngày, Bài Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương, Văn Khấn ông Công Ngày Rằm, Bài Khấn Hàng Ngày, Văn Khấn 3 Ngày Người Chết, Bài Khấn Lễ Gia Tiên Ngày Cưới, Bài Khấn Ngày Thanh Minh, Bài Khấn Gia Tiên Hàng Ngày,

Văn Khấn Ông Công Ngày Rằm / 2023

Văn Khấn Thổ Công Ngày Rằm, Văn Khấn ông Công Ngày Rằm, Văn Khấn Ngày Rằm Thổ Công, Văn Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương Thổ Công, Văn Khấn 7 Ngày, Văn Khấn Ngày 03 Tết, Văn Khấn Ngày 05/5, Văn Khấn Ngày 5.5, Văn Khấn Thần Tài Ngày Rằm, Văn Khấn Ngày Giỗ, Văn Khấn Ngày Giỗ Mẹ, Bài Khấn 100 Ngày, Văn Khấn 21 Ngày, Bài Khấn 49 Ngày, Văn Khấn 1 Ngày Rằm, Văn Khấn 100 Ngày Về Nhà Mới, Bài Khấn Ngày 23/12, Văn Khấn 50 Ngày, Văn Khấn Mụ 9 Ngày, Văn Khấn Ngày 01 Tết, Bài Khấn Ngay 23, Bài Khấn 100 Ngày Về Nhà Mới, Văn Khấn 100 Ngày, Văn Khấn 3 Ngày Tết, Bài Khấn 3 Ngày Tết, Bài Khấn Ngày Rằm, Văn Khấn 3 Ngày, Bài Khấn Ngày 23 Tết, Bài Khấn Ngày Giỗ, Văn Khấn Ngày 01, Văn Khấn 49 Ngày Mất, Văn Khấn 49 Ngày, Văn Khấn 49 Ngày Người Mất, Văn Khấn Hàng Ngày, Văn Khấn Thần Linh Ngày Rằm, Bài Khấn Hàng Ngày, Văn Khấn 49 Ngày Ngoài Mộ, Văn Khấn Gia Tiên Ngày 15, Văn Khấn 100 Ngày Ngoài Mộ, Văn Khấn Cúng 50 Ngày, Bài Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương, Bài Khấn 100 Ngày Bát Hương, Văn Khấn Ngày Lễ Phật Đản, Văn Khấn Ngày Mùng 1, Văn Khấn Ngày Rằm Mùng 1, Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 6, Bài Khấn Ban Thần Tài Hàng Ngày, Văn Khấn 3 Ngày Người Chết, Bài Khấn Lễ Gia Tiên Ngày Cưới, Văn Khấn Ngày 7 Tháng Giêng, Bài Khấn Ngày Thanh Minh, Bài Khấn Gia Tiên Hàng Ngày, Văn Khấn Ngày 01 Hàng Tháng, Bài Khấn Khởi Công Công Trình, Mẫu Công Văn Khẩn, Công Văn Khẩn, Văn Khấn 23 ông Công ông Táo, Văn Khấn Thổ Công, Văn Khấn ông Công, Văn Khấn ông Thổ Công, Bài Khấn ông Công, Bài Khấn Ong Cong Ong Tao, Văn Khấn Ong Cong Ong Tao, Bài Khấn Xin Công Danh, Văn Khấn Khởi Công Xây Nhà, Văn Khấn Yên Vị Bát Hương Thổ Công, Văn Khấn Quan Công, Văn Khấn Ban Công Đồng, Ví Dụ Về Công Điện Khẩn, Công Văn Khẩn Số 7164/ Byt-kcb, Bài Khấn Ban Công Đồng, Bài Khấn Khởi Công, Văn Khấn Công Đồng, Bài Khấn Rằm Tháng 7 Tại Công Ty, Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn Công Đoàn, Công Điện Khẩn, Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn Cua Cong Doan, Công Điện Khẩn Bão Số 8, Công Điện Khẩn Số 88/cĐ-tw, Mẫu Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn Của Công Đoàn, Công Văn Rà Soát Các Xã Đặc Biệt Khó Khăn, Công Điện Khẩn Số 1475/cĐ-bnn-ty, Công Điện Khẩn Của Bộ Giáo Dục, Công Điện Khẩn Số 6529/cĐ-bnn-ty, Công Văn Của Bộ Gd-Đt Số 7632/bgd-Đt-gdth Ký Ngày 29/8/2005 Về Việc Hướng Dẫn Học Hai Buổi/ngày ở Bậ, Danh Sách Các Công Ty Sản Xuất Khăn ướt, Công Điện Khẩn Phòng Chống Lụt Bão, Công Điện Khẩn Của Thủ Tướng Chính Phủ, Thuận Lợi Khó Khăn Việc Xây Dựng Văn Hóa Công Sở, Công Điện Khẩn Thái Bình, Danh Sách Công Ty Sản Xuất Khăn ướt, Công Điện Khẩn Của Bộ Nông Nghiệp, Công Điện Khẩn Về Phòng Chống Lụt Bão, Công Văn Số 7632/bgdĐt/gdth Ngày 29/8/2005 Của Bộ GdĐt Về Việc Hướng Dẫn Dạy Học 2 Buổi/ngày ở Lớp 1, Bo Di Cong Tac Ngay 24/7 Bo Di Cong Tac 18 Ngay Hoi Bo Di Cong Tac Ve Ngay May Thang May, Công Điện Khẩn Về Bão Trên Biển Đông, Danh Sách Các Công Ty Sản Xuất Khăn Giấy ướt, Công Điện Khẩn Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Công Điện Khẩn Về Ngăn Chặn Virus Cúm A, Báo Cáo Tham Luận Thuậjn Lợi, Khó Khăn Công Tác Tuyên Truyền Miêng,

Văn Khấn Thổ Công Ngày Rằm, Văn Khấn ông Công Ngày Rằm, Văn Khấn Ngày Rằm Thổ Công, Văn Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương Thổ Công, Văn Khấn 7 Ngày, Văn Khấn Ngày 03 Tết, Văn Khấn Ngày 05/5, Văn Khấn Ngày 5.5, Văn Khấn Thần Tài Ngày Rằm, Văn Khấn Ngày Giỗ, Văn Khấn Ngày Giỗ Mẹ, Bài Khấn 100 Ngày, Văn Khấn 21 Ngày, Bài Khấn 49 Ngày, Văn Khấn 1 Ngày Rằm, Văn Khấn 100 Ngày Về Nhà Mới, Bài Khấn Ngày 23/12, Văn Khấn 50 Ngày, Văn Khấn Mụ 9 Ngày, Văn Khấn Ngày 01 Tết, Bài Khấn Ngay 23, Bài Khấn 100 Ngày Về Nhà Mới, Văn Khấn 100 Ngày, Văn Khấn 3 Ngày Tết, Bài Khấn 3 Ngày Tết, Bài Khấn Ngày Rằm, Văn Khấn 3 Ngày, Bài Khấn Ngày 23 Tết, Bài Khấn Ngày Giỗ, Văn Khấn Ngày 01, Văn Khấn 49 Ngày Mất, Văn Khấn 49 Ngày, Văn Khấn 49 Ngày Người Mất, Văn Khấn Hàng Ngày, Văn Khấn Thần Linh Ngày Rằm, Bài Khấn Hàng Ngày, Văn Khấn 49 Ngày Ngoài Mộ, Văn Khấn Gia Tiên Ngày 15, Văn Khấn 100 Ngày Ngoài Mộ, Văn Khấn Cúng 50 Ngày, Bài Khấn 100 Ngày Bốc Bát Hương, Bài Khấn 100 Ngày Bát Hương, Văn Khấn Ngày Lễ Phật Đản, Văn Khấn Ngày Mùng 1, Văn Khấn Ngày Rằm Mùng 1, Văn Khấn Ngày Rằm Tháng 6, Bài Khấn Ban Thần Tài Hàng Ngày, Văn Khấn 3 Ngày Người Chết, Bài Khấn Lễ Gia Tiên Ngày Cưới, Văn Khấn Ngày 7 Tháng Giêng,